This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Gạch không nung vì sao khó tiêu thụ?

Đó là nhận định của Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam đã trong Hội thảo “Vật liệu xây không nung – thách thức và giải pháp phát triển sản xuất và sử dụng trong xây dựng công trình” vừa mới diễn ra.

Sau gần 4 năm thực hiện chương trình phát triển VLXKN, đến nay đã có 12 nhà máy gạch bê tông khí chưng áp, 30 cơ sở sản xuất bê tông bọt và hơn 100 cơ sở sản xuất gạch xi măng cốt liệu, đưa tổng số gạch không nung lên hơn 6 tỷ viên/năm. Về công suất, VLXKN đã chiếm tỷ lệ 27% trên tổng số vật liệu xây.

Mặc dù Chính phủ đã có những văn bản chỉ đạo, quy định hướng dẫn thực hiện sản xuất và sử dụng VLXKN trong công trình xây dựng nhưng đến nay, việc sử dụng vật liệu này còn rất hạn chế; xóa bỏ sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với khu vực nông thôn của các huyện.

Riêng Hà Nội hiện có 8 cơ sở sản xuất VLXKN đang hoạt động với tổng công suất khoảng 260 triệu viên QTC/năm. Hầu hết các cơ sở này gặp nhiều khó khăn, không phát huy hết công suất do không tiêu thụ được sản phẩm. Một số doanh nghiệp (DN) đã phải dừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng theo đơn đặt hàng, lo giải phóng hàng tồn kho từ trước…

Gạch không nung vì sao khó tiêu thụ? Mặc dù Chính phủ đã chỉ đạo nhưng đến nay, việc sử dụng VLXKN còn rất hạn chế

Theo Bộ Xây dựng, nguyên nhân khiến việc tiêu thụ VLXKN khó khăn là do thói quen tiêu dùng của người dân vẫn thích gạch nung đất sét màu đỏ tươi. Hơn nữa, trong quá trình thi công, việc lưu giữ vật liệu trên công trường khi gặp mưa sẽ bị hút nước, tăng khối lượng viên gạch và rất lâu khô, gây khó khăn cho công tác hoàn thiện (sơn, trát). Việc thi công phần xây bằng VLXKN nhẹ (loại bê tông khí chưng áp hoặc bê tông bọt) đòi hỏi người thợ có tay nghề nhất định và cần được hướng dẫn kỹ thuật thi công, đặc biệt là khâu hoàn thiện. Điều này khó thực hiện đối với các công trình của các hộ dân.

Điều quan trọng nữa là các nhà đầu tư, tư vấn thiết kế, nhà thầu xây dựng  còn chưa hiểu biết nhiều về sản phẩm VLXKN. Một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến triển khai Quyết định 567/QĐ/TTg xây dựng lộ trình xóa bỏ lò gạch thủ công.

Theo các chuyên gia, để VLXKN sớm thay thế dần gạch đất sét nung, nhà nước cần có chính sách hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, nhất là các công trình vốn ngân sách, có chính sách ưu đãi đối với các dự án sản xuất VLXKN. Bộ Xây dựng cũng kiến nghị  tăng thuế tài nguyên đất sét lên 15% (hiện nay là 7%); DN đầu tư mở rộng sản xuất VLXKN cần được ưu đãi như DN lập dự án đầu tư mới. Hình thành đồng bộ tiêu chuẩn sản phẩm, kỹ thuật sản xuất; đơn giá, quy phạm, định mức xây dựng liên quan đến sản xuất và sử dụng VLXKN trong các công trình xây dựng.

Bên cạnh đó, cần hoàn chỉnh, ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình kỹ thuật thi công, các định mức, đơn giá liên quan đến việc sản xuất và sử dụng các chủng loại VLXKN để có cơ sở áp dụng đồng bộ, tạo thuận lợi cho các đơn vị  đưa các loại sản phẩm này vào công trình. Đặc biệt, nhà nước cùng chung tay với DN giải quyết bài toán về vốn, lãi vay, thực hiện nghiêm túc việc sử dụng VLXKN trong các công trình vốn nhà nước, khuyến khích và tuyên truyền cho người dân về loại vật liệu thân thiện môi trường này.

Các loại vật liệu xanh trong xây dựng hiện đại

Các loại vật liệu xanh trong xây dựng hiện đại
Vật liệu xanh nhằm giảm thiểu những tác động đến môi trường trong quá trình xây dựng.

Để đạt được mục tiêu phát triển vật liệu không nung các sản phẩm vật liệu xây dựng phải đáp ứng được hai yêu cầu: Tiêu tốn ít năng lượng hơn cho việc tạo ra nó và giúp tiết kiệm được nhiều điện năng tiêu thụ hơn khi đưa vào sử dụng.

Chương trình phát triển vật liệu xây dựng không nung đến năm 2020 với mục tiêu phát triển sản xuất và sử dụng loại vật liệu này thay thế gạch đất sét nung đạt tỷ lệ 20-25% vào năm 2015 và 30-40% vào năm 2020 cũng đã được Chính phủ ký quyết định phê duyệt.

Những sản phẩm vật liệu xây dựng trong nhóm vật liệu xanh hiện đang được yêu thích trên thị trường:

Xốp cách nhiệt (XPS)

Xốp cách nhiệt (XPS) được làm bằng chất dẻo PS thông qua quá trình đặc biệt mà ở đó tấm cứng, giãn nở được đúc ép. Cấu trúc được hàn kín và có bọt giúp cho có nhiều ưu điểm bao gồm việc cách nhiệt hoàn hảo, chống lại lực nén cao, không thấm nước, chống ẩm, chống ăn mòn, tuổi thọ cao và hệ số dẫn nhiệt thấp… Trọng lượng của nó nhẹ và dễ dàng cắt và mang vác. Đó là một loại nguyên vật liệu tuyệt vời để bảo vệ môi trường và là vật liệu xây dựng tiết kiệm năng lượng.

Là một tấm xốp cách nhiệt, xốp cách nhiệt XPS có được tính chất cách nhiệt tuyệt vời (độ dẫn nhiệt là 0.0289w/m.k). Xốp cách nhiệt XPS có độ chắc khỏe và độ bền rất cao do sự ổn định của cấu trúc hóa học và vật lý của nó. Mặc dù đã được sử dụng trên 50 năm, khả năng cách nhiệt của nó vẫn đạt trên 80% so với giai đoạn ban đầu

Các loại vật liệu xanh trong xây dựng hiện đại 1

So với xốp cách nhiệt ÉP, xốp cách nhiệt XPS có nhiều ưu điểm hơn. Trong quá trình đột dập, tấm xốp có bề mặt đồng đều liên tục (đều) và tế bào lõm vào.

Chính cấu trúc phân tử của chất dẻo PS được đột dập hoàn toàn không ngấm nước. Khả năng ngấm của nó chỉ bằng 1% thể tích, không bằng 1/10 các vật liệu cách nhiệt khác, chẳng hạn như chất dẻo PS giãn nở và PU. Xốp cách nhiệt XPS xử lý tính chất chống ẩm rất tuyệt vời do cấu trúc được hàn kín và có bọt của nó

Với cấu trúc hóa học ổn định, sẽ không có chất nguy hiểm độc nào bị bốc hơi, không bị phân hủy hoặc nấm mốc, chống ăn mòn tuyệt vời. Xốp cách nhiệt XPS được sản xuất bằng vật liệu môi trường, không có khí độc hại, bao gồm triết lý về sản phẩm bảo vệ môi trường. Những tấm dư thừa có thể tái sử dụng.

Bên cạnh đó, xốp cách nhiệt XPS có đặc tính cách âm đặc biệt. Nó có thể làm giảm âm thanh từ phía bên ngoài khi được sử dụng làm vách ngăn trong nhà hàng, phòng vui chơi giải trí và có những ưu dùng để trang trí trong xây dựng.

Tôn lợp sinh thái

Tấm lợp sản xuất từ sợi hữu cơ cellulose, chất chống thấm asphalt và acrylic theo phương pháp ép lớp. Bề mặt tấm lợp được phủ nhiều lớp acrylic tạo sự dẻo dai. Sản phẩm chịu được thời tiết khắc nghiệt, không gỉ sét trong môi trường muối thích hợp cho các khu vực biển.

Các loại vật liệu xanh trong xây dựng hiện đại 2

Tấm lợp chỉ nặng 2,73kg/m2, đặc tính nhẹ cùng với cách lợp riêng. Tôn lợp sinh thái có khả năng chịu được gió bão, lốc xoáy lên đến 192km/h.

Khi dùng tấm lợp, mưa sẽ ít tạo tiếng ồn và chống nóng, chống dẫn điện. Do trọng lượng nhẹ, thích hợp cho việc sửa mái như lợp chồng lên các mái cũ đã bị dột, hoặc lợp mái trên nhà tiền chế ở sân thượng để chống nóng, chống thấm.

Gỗ ốp tường xanh

Một số vật liệu như gỗ Weathertex của Úc được sản xuất theo công nghệ ép bằng áp suất hơi nước, gỗ được ép từ vụn gỗ – xay từ nhánh cây, cành cây tận thu. Thành phần vụn gỗ chiếm 97% và 3% là chất kết dính. Loại gỗ này được sản xuất để làm vách công trình, có những ưu điểm hơn hẳn gỗ tự nhiên như không cong vênh do chịu được môi trường thời tiết ngoài trời, không mối mọt, chống cháy, độ bền cao.

Các loại vật liệu xanh trong xây dựng hiện đại 3

Sản phẩm bảo vệ môi trường này “không sử dụng gỗ rừng tự nhiên mà dùng cây tận thu từ gỗ rừng trồng, có thể tái chế 100%”. Hiện trên thị trường có hai loại ván trong nhà và ngoài trời với nhiều vân gỗ và màu sắc khác nhau. Các chất kết dính không dùng hoá chất, không có tính độc hại.

Vật liệu này còn có kích thước tiêu chuẩn nên việc thi công dễ và nhanh chóng. Trọng lượng nhẹ, thích hợp cho việc nâng tầng.

Xi măng xanh

Xi măng địa polime (Geopolymer), là loại vật liệu xây dựng thân môi trường và đổi mới được phát triển tại Trung tâm Công nghệ Trenchless của trường đại học Công nghệ Louisiana (TTC) - Mỹ, được trưng bày tại triển lãm giao thông tổ chức tại Trung tâm Khoa học Detroit.

Được Tiến sĩ Erez Allouche, Giám đốc của TTC và nhóm nghiên cứu của ông phát triển, xi măng địa polime là một thế hệ vật liệu xi măng mới sử dụng “tro bay” một trong những sản phẩm phụ công nghiệp dư thừa nhất, với vai trò là vật thay thế cho xi măng Portland, loại vật liệu tổng hợp được sản xuất phổ biến nhất trên thế giới.

Các loại vật liệu xanh trong xây dựng hiện đại 4

Allouche cho biết xi măng địa polime này thu hút được sự chú ý rộng rãi của công chúng tới công nghệ xây dựng xanh mới nổi này. Nếu công chúng nhận thức được rằng có những phương pháp bền vững hơn để xây dựng cầu đường, thì sẽ khiến các cơ quan chính phủ khai thác và thúc đẩy các công nghệ “xanh hơn”. Sự ảnh hưởng như vậy rất thiết yếu đối với các vật liệu mới, ví dụ như xi măng địa polime, để góp phần vượt qua rất nhiều rào cản hành chính tồn tại giữa phòng thí nghiệm với ngành xây dựng.

So sánh với xi măng Portland thông thường, xi măng địa polime có những đặc tính hơn hẳn như độ chống ma sát cao hơn, chịu lửa tốt hơn (lên tới 2400oF), có sức căng và biến dạng cao, độ co ngót thấp.

Bê tông nhẹ

Đây là sản phẩm dùng công nghệ chưng áp khí, không nung. Bêtông nhẹ làm thành gạch khối, tấm sàn mái, tấm tường. Cốt liệu sản phẩm được làm từ cát, nước, vôi, ximăng qua công nghệ trộn với bột nhôm, phụ gia đổ vào khuôn. Từ đó, hỗn hợp cho phản ứng lý hoá tạo sự giãn nở thành những túi khí bên trong nên sản phẩm có độ rỗng cao. Sau đó cho vào nồi hấp chưng áp có nhiệt độ và áp suất cao.

Các loại vật liệu xanh trong xây dựng hiện đại 5

Ưu điểm sản phẩm là nhẹ hơn 1/2 so với gạch đất sét nung, từ đó, tiết kiệm được chi phí nền móng. Theo nhà sản xuất cho biết, do cấu trúc và thành phần bêtông nhẹ nên có khả năng cách nhiệt, có thể giảm khoảng 30% điện năng cho máy lạnh. Có khả năng cách âm, giảm khoảng 1/2 so với vật liệu gạch truyền thống, chống cháy được khoảng bốn giờ. Bề mặt gạch phẳng đều nên tiết kiệm vữa trát tường.

Giá thành cao hơn gạch thông thường khoảng 10 – 15% nhưng lại giảm được nhiều chi phí khác như nền móng, vữa xây tô, điện năng điều hoà không khí… Sản phẩm bêtông nhẹ là sản phẩm xanh vì giảm được chất thải – không nung, không gây ảnh hưởng môi trường.

Gạch ốp lát tái chế

Các loại vật liệu xanh trong xây dựng hiện đại 6

Được sản xuất từ nguyên liệu gạch vỡ, gạch vụn thải ra trong sản xuất. Sản phẩm được xử lý công nghệ đặc biệt cho ra sản phẩm sử dụng “xà bần” từ 50 – 100%. Ở loại gạch ốp lát, lần đầu xuất hiện loại gạch dùng nguyên liệu tái sinh 100% như gạch khổ lớn Fiandre của Vietceramics.

Tuy nhiên vẫn đảm bảo kỹ thuật cũng như thẩm mỹ và cho ra khổ gạch lớn. Màu sắc của gạch quyết dịnh do tỷ lệ nguyên liệu tái chế dùng nhiều hay ít, màu trắng là tỷ lệ 50%, màu xám tỷ lệ 70% và màu đen tỷ lệ 100%.

Những điều cần biết về sản phẩm vòi hoa sen

Phần lớn người mua thiết bị cho nhà vệ sinh thường được tư vấn những sản phẩm hàng ngoại nhập hoặc hàng liên doanh bởi chất lượng tốt, mẫu mã đẹp tạo nên sự sang trọng cho ngôi nhà và được bảo hành dài hạn.

Hiện nay, trên thị trường giá cả sen vòi thì lại rất khác nhau. Chưa kể có nhiều chất liệu để tạo ra bộ sản phẩm này.

Những điều cần biết về sản phẩm vòi hoa sen
Ảnh chỉ có tính chất minh họa

Dạo quanh các phố bán nhiều đồ vật liệu xây dựng như Cát Linh, Trường Chinh, Thanh Xuân, Lạc Long Quân, Hoàng Quốc Việt mới thấy hết sự đa dạng về chủng loại, mẫu mã của thị trường sen vòi. Cụ thể vòi hoa sen nhựa có cái chưa đến trăm nghìn, cái vài trăm nghìn hay thậm chí vài triệu đồng. Các sản phẩm được giới thiệu có nhiều nguồn gốc: hàng trong nước, hàng liên doanh và nhập khẩu. Có thể kể đến một số thương hiệu được ưa chuộng trên thị trường hiện nay như Nency, Italisa, Toto, Inax, Picenza, American, Inax, Picenza, American, Datkeys; Valta, Milanos…

Vòi hoa sen inox cũng có nhiều loại tương tự và nhiều kiểu dáng hiện đại, phong phú về chất lượng. Vòi hoa sen có hai xu hướng về mẫu mã. Theo Phong cách châu u có hình dáng to, dày, nặng. Theo kiểu dáng châu Á, vòi sen có dáng mảnh và nhỏ hơn. Hàng sen vòi cao cấp trên thị trường hiện có những nhãn hiệu như: Senziny, Moen, American Standard, Inax, Toto. Sản phẩm loại khá có Datkeys; Valta, Milanos – Sen vòi hàng liên doanh với Hàn Quốc; Joden Trung Quốc… còn lại là sản phẩm trung bình và các hàng trôi nổi với nhiều nhãn hiệu khác.

Những điều cần biết về sản phẩm vòi hoa sen 1
Ảnh chỉ có tính chất minh họa

Chị Hương, một người đang tìm kiếm sản phẩm sen vòi để lắp đặt cho công trình đang xây dựng của mình tại Hà Đông cho biết, chị đã rất phân vân khi phải đứng trước hàng loạt nhãn hiệu trong và ngoài nước. Nhưng điều đáng nói, các cửa hàng đều khẳng định đều có xuất xứ rõ ràng nhưng điểm danh chỉ được một số thương hiệu có tên tuổi. Còn lại khi hỏi đến phiếu bảo hành, phiếu thông số kỹ thuật thì một số cửa hàng đều không đưa ra được. Thậm chí một trong số sản phẩm đó còn được dán tem nhãn bảo đảm như các sản phẩm của các thương hiệu chất lượng khác. Cuối cùng chị đành phải hỏi các gia đình xung quanh nhà mình đã dùng loại nào rồi cứ thế mà mua.

Trên thực tế, những nhãn hiệu nổi tiếng như Toto, Inax, American.. càng dễ bị hàng nhái trà trộn. Tâm lý “sính ngoại” và “hám rẻ” của người tiêu dùng là cơ hội trục lợi cho các gian thương. Nhiều người cho biết vì không có kinh nghiệm và có đủ sự tỉnh táo khi đi mua sản phẩm nên họ đã phải dùng vòi sen giá rẻ kém chất lượng.

Những điều cần biết về sản phẩm vòi hoa sen 2
Ảnh chỉ có tính chất minh họa

Trong thời gian vừa qua, lực lượng chức năng đã có đợt thu được trên 5 tấn hàng gồm vài nghìn thiết bị vòi tắm các hãng nổi tiếng (trong đó có cả ToTo và Inax) cùng hàng trăm bộ tem nhãn và tem chống hàng giả. Được biết, số hàng này cũng không có hóa đơn chứng từ.

Khảo giá của các thiết bị vệ sinh thì sản phẩm mang thương hiệu Toto vẫn có giá đắt trên thị trường. Một bộ sen vòi nhập khẩu có giá dao động từ 10 - 15 triệu đồng/ bộ. Trong khi đó, sản phẩm của Inax được người tiêu dùng mua nhiều hơn, khi giá chỉ trên dưới 12 triệu/bộ (đối với hàng trung bình). Còn đối với sản phẩm nội địa, liên doanh và Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc thì giá trung bình từ 3 – 10 triệu bộ (tùy loại).

Gần đây, người tiêu dùng ưu chuộng loại vòi hoa sen có thiết bị cảm ứng, chìa tay vào tự động nước chảy và thiết bị van hòa nước nóng lạnh được điều chỉnh bằng số. Hoặc người mua cũng ưa chuộng chọn thiết bị vòi hoa sen phát sáng đổi màu có thể thay đổi theo nhiệt độ của nước. Tuy nhiên, sản phẩm này có giá cao. Đơn cử hàng Senziny Việt Nam hiện đang có giá từ 4 đến 6 triệu đồng/bộ.

Những điều cần biết về sản phẩm vòi hoa sen 3
Ảnh chỉ có tính chất minh họa

Chị Thúy, chủ cửa hàng vật liệu xây dựng trên đường Trường Trinh cho biết, hàng ngoại luôn được lòng người tiêu dùng trong nước bởi sự phong phú về mẫu mã, chất lượng sản phẩm. Sản phẩm sen vòi nhập khẩu hoặc liên doanh chiếm ưu thế, trong khi đó, hàng trong nước chưa phát huy hết khả năng cạnh tranh. Trên thị trường hiện có rất nhiều hàng sen vòi kém chất lượng, hàng trôi nổi, hàng nhái. Bởi vậy, khi chọn lựa, người mua cần xem kỹ nước xi mạ bên ngoài.

Ngoài ra, hàng nhái sẽ không láng bóng đều, bên trong hay bị rỗ. Quan trọng nhất là xem bộ lõi bên trong của vòi hoa sen. Với hàng tốt, van đĩa điều tiết nước bằng ceramic, không bám cặn bẩn và ít mòn. Hàng vòi hoa sen nhái rẻ tiền thường có lõi bằng nhựa, cao su dễ bị chai và độ bào mòn nhanh. Chính vì vậy khi mua vòi hoa sen người mua cần phải để ý tới các đặc điểm trên, chị Thúy nhấn mạnh.

Việt Nam khó đạt mục tiêu 100% vật liệu không nung sau năm 2015

- Theo quy định của Bộ Xây dựng, từ 15/1/2013, các công trình xây dựng tại các đô thị loại 3 trở lên phải sử dụng 100% vật liệu xây dựng không nung; các khu vực còn lại phải sử dụng tối thiểu 50% vật liệu xây dựng không nung, sau năm 2015 phải sử dụng 100%. Ông đánh giá ra sao về mục tiêu này?

- Việc sử dụng vật liệu xây dựng không nung vẫn còn gặp rất nhiều trở ngại từ nhiều phía tại Việt Nam. Thứ nhất, về trở ngại từ suy thoái kinh tế: Từ năm 2008, bất động sản đóng băng, kinh tế suy thoái đã làm cho ngành vật liệu xây dựng rơi vào tình trạng khó khăn và tình hình càng trầm trọng hơn đối với tình hình tiêu thụ vật liệu xây không nung.

Thứ hai, trở ngại từ người tiêu dùng: Sử dụng vật liệu xây đất sét nung vốn đã xuất hiện từ những ngày đầu trong ngành xây dựng Việt Nam. Xây nhà là việc cả đời, tuy nhiên việc thiếu thông tin về vật liệu thân thiện môi trường mới với giá cả cao hơn nhiều so với vật liệu truyền thống khiến cho chủ nhà, chủ đầu tư trở nên e ngại khi chọn lựa.

Việt Nam khó đạt mục tiêu 100% vật liệu không nung sau năm 2015

Thứ ba, trở ngại từ người thiết kế: Các tiêu chuẩn sản phẩm, quy phạm xây dựng, kết cấu kiến trúc, đơn giá xây dựng của các loại vật liệu không nung chưa được ban hành đồng bộ, đầy đủ từ các cơ quan quản lý. Do đó, kiến trúc sư và kỹ sư thiết kế xây dựng chưa tự tin và khó chỉ định thiết kế, dự toán khối lượng vật liệu xây không nung cho công trình. Các đơn vị tư vấn thiết kế vẫn quen dùng thông số kỹ thuật của gạch nung, do đó, khi đưa vật liệu không nung vào các công trình thì e ngại phải thay đổi thiết kế. Ngoài ra, thuyết phục chủ đầu tư lựa chọn sản phẩm mới này cũng là một rào cản không nhỏ đối với các đơn vị tư vấn.

Thứ tư, trở ngại từ các nhà thi công: Thi công vật liệu xây không nung đòi hỏi kỹ năng xây tô, lắp đặt khác với truyền thống, nên nhà thầu và thợ xây dựng gặp không ít khó khăn trong quá trình thi công, sự cố kỹ thuật. Nhiều loại vật liệu mới chưa được ban hành hướng dẫn thi công và nghiệm thu đồng bộ cũng đã gây lúng túng, bất tiện cho nhà thi công.

Thứ năm, trở ngại từ chính sách: Vẫn chưa có nhiều khuyến khích mạnh mẽ từ phía Chính phủ dành cho các nhà đầu tư sản xuất và các công trình sử dụng vật liệu xây không nung, chính sách hiện nay chỉ mới dừng ở việc bắt buộc sử dụng đối với các công trình từ 9 tầng trở lên. Bên cạnh đó, khung chế tài cho việc thực thi chính sách khuyến khích vật liệu không nung chưa đủ mạnh để xử lý những công trình vi phạm. Các địa phương vẫn còn thiếu nguồn lực và kiến thức cần thiết để triển khai chương trình phát triển vật liệu không nung.

Theo tôi, nếu không có những nỗ lực mạnh mẽ và quyết tâm từ phía chính quyền và các DN, thì mục tiêu 100% vật liệu không nung tại Việt Nam sau năm 2015 là rất khó khả thi.

Theo quy định, sau năm 2015, các công trình xây dựng phải sử dụng 100% vật liệu xây dựng không nung

- Chi phí cao có phải là rào cản chính khiến DN không muốn sử dụng loại vật liệu thân thiện với môi trường vào các dự án?

- Giá thành cao thường được nhìn nhận là rào cản cho sự phát triển vật liệu xanh, nhưng trên thực tế chưa hẳn là như vậy.

Hiện nay, các giải pháp vật liệu xanh tiên tiến trên thế giới đã được mang vào Việt Nam từ các tập đoàn hàng đầu thế giới. Chi phí tính theo m2 tường của vật liệu xanh là khá cao so với gạch đất sét nung truyền thống, nhưng nếu đưa vào thiết kế ngay từ đầu sẽ giảm được chi phí móng, giảm kích thước kết cấu, giảm chiều cao tầng, tiết kiệm năng lượng điều hòa do tính cách nhiệt cao. Tốc độ thi công nhanh hơn tường gạch nung, giúp rút ngắn thời gian xây dựng, sớm đưa công trình vào sử dụng, giảm chi phí lãi vay đầu tư. Vì vậy, nếu so về tổng thể lâu dài, giải pháp xanh sẽ ưu thế hơn về giá và các lợi ích dài hạn khác cho môi trường, xã hội.

- Ông có thể đánh giá tiềm năng sử dụng vật liệu xanh, thân thiện với môi trường tại Việt Nam trong thời gian tới?

- Là một thị trường mới phát triển, ngành xây dựng Việt Nam sẽ còn tiến xa, nên tôi hoàn toàn tin rằng, còn rất nhiều cơ hội cho vật liệu xanh. Chúng tôi cam kết sẽ đồng hành với Việt Nam để góp phần phát triển vật liệu xanh không nung.

Mục tiêu của chúng tôi là thay đổi phương cách thiết kế, xây dựng và sử dụng công trình, cũng như giúp khách hàng xây nên những công trình bền vững hơn, tốt hơn cho sức khỏe cư dân, tiện lợi và thân thiện môi trường hơn. Bước đầu tiên trong hành trình của chúng tôi là đồng hành với cơ quan quản lý thuyết phục các đơn vị thiết kế, nhà thầu, chủ đầu tư ủng hộ vật liệu xây không nung.

Những khó khăn trong việc sử dụng vật liệu xanh

Trong hội thảo giải pháp phát triển bền vững sản xuất và sử dụng VLXKN vừa diễn ra trong hội chợ Vietbuild Tp.HCM 2104, Chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam, Tiến sĩ Trần Văn Huynh cho biết, nguyên nhân tiêu thụ VLXKN ở nước ta thời gian qua còn kém phát triển là do: Chương trình 567 ra đời vào đúng lúc kinh tế suy thoái, đầu tư công bị cắt giảm, thị trường bất động sản lâm vào khó khăn nên vật liệu bị thu hẹp.

Việc đầu tư sản xuất bê tông bọt, bê tông bọt khí ACC bước đầu phát triển nóng với trình độ công nghệ thấp, trang thiết bị chưa đồng bộ nên dẫn đến mẫu mã chất lượng sản phẩm chưa cao, không ổn định.

Khi đưa sản phẩm vào xây dựng thì không tuân thủ theo đúng chỉ dẫn kỹ thuật, vữa xây, vữa chát không đạt chất lượng. Tay nghề của thợ chưa được đào tạo dẫn đến chất lượng một số ít công trình chưa tốt như tường bị nứt, gây tâm lý hoài nghi về sản phẩm, ảnh hưởng tới thị trường tiêu thụ.

Các nhà tư vấn thiết kế nhà thầu xây dựng, chủ đầu tư công trình chưa tuân thủ triệt Chỉ thị 10 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 09 của Bộ Xây dựng về việc đưa VLXKN vào công trình xây dựng là nguyên nhân hạn chế sự phát triển thị trường VLXKN trong thời gian qua.

Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền phổ biến chủ trương phát triển VLXKN thay thế gạch đất sét nung chưa đủ mạnh. Chưa nói được tính ưu việt của VLXKN, đặc biệt là bê tông nhẹ, vật liệu xanh, cách âm, cách nhiệt, tiết kiệm năng lượng, thi công nhanh, giảm vốn đầu tư công trình… chưa đủ sức hấp dẫn thu hút cộng đồng để tạo dựng thị trường VLXKN phát triển.

Những khó khăn trong việc sử dụng vật liệu xanh

Tuy nhiên, theo ông Trần Trọng Tuấn, Giám đốc Sở Xây dựng Tp HCM thì vướng mắc còn nằm ở chỗ cơ chế chính sách và đào tạo nguồn nhân lực. Theo ông Tuấn, cần hoàn thiện các cơ chế chính sách ưu đãi cụ thể, đặc biệt là chính sách về sản xuất và tiêu thụ VLXKN.

Đồng thời cơ quan quản lý nhà nước phải ban hành danh mục các loại thiết bị vật tư sản xuất VLXKN trong nước chưa thể sản xuất được, được miễn thuế nhập khẩu để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đầu tư sản xuất chủng loại vật liệu này.

Cùng đó là chỉ đạo các cơ sở đào tạo nghề đưa nội dung kỹ thuật thi công VLXKN vào chương trình đào tạo nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực cung cấp cho các công trình xây dựng.

Tại hội thảo, các chuyên gia cho rằng ngoài cơ chế chính sách của nhà nước thì bản thân các doanh nghiệp, nhà thầu tư vấn thiết kế cũng phải mạnh dạn ứng dụng VLXKN vào các công trình xây dựng.

Theo TS Trần Văn Huynh, việc đầu tiên các doanh nghiệp phải đầu tư chiều sâu, ứng ụng công nghệ tiên tiến kỹ thuật hiện đại, đổi mới thiết bị nâng cao quá trình tự động hóa, kiểm soát chế độ cấp hơi cho lò chưng áp, kiểm soát phối liệu, điều khiển quá trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm đảm bảo độ chính xác đồng đều về quy cách sản phẩm đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm để phù hợp với nhu cầu thị trường xây dựng nước ta.

Tăng cường sử dụng phế thải công nghệp tiết kiệm nguyên liệu, tiết kiệm chi phí sản xuất nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhanh chóng tạo dựng thương hiệu trên thị trường bằng uy tín, chất lượng sản phẩm, giá cả hợp lý.

Để đưa VLXKN vào công trình chất lượng cao cần phải đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật công nhân lành nghề am hiểu về kỹ thuật xây, trát, nghiệm thu tường xây, nhất là blok bê tông khí trưng áp ACC.

“Trong giai đoạn đầu công nhân xây dựng chưa nắm bắt được kỹ thuật thi công xây tường bằng bê tông ACC thì nhà cung cấp nên bố trí cán bộ kỹ thuật hỗ trợ, hướng dẫn thi công và nghiệm thu tường xây đạt chất lượng. Nhà thầu phải tuân thủ đầy đủ và nghiêm túc các quy định của thiết kế, kỹ thuật thi công xây trát, nghiệm thu công trình bằng sản phẩm ACC.

TS Huynh nhấn mạnh, các doanh nghiệp phải trang bị đầy đủ thiết bị dụng cụ thi công, vật tư, kỹ thuật chuyên dụng kết nối giữa tường và cột, dầm bê tông, cửa đi, của sổ... Đây là giải pháp rất quan trọng bảo đảm chất lượng công trình, tạo dựng thị trường VLXKN phát triển”.

Tư vấn cách chọn mua vòi hoa sen tốt

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số các tiêu chí lựa chọn sản phẩm để người tiêu dùng tham khảo trước khi quyết định đầu tư cho ngôi nhà của mình.

Tư vấn cách chọn mua vòi hoa sen tốt

Đầu tiên, chất liệu đồng thau phải bền chắc. Những sản phẩm nhiễm độc chì có thể gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của con người, nhất là trẻ em và phụ nữ mang thai. Chính vì thế hàm lượng chì trong sản phẩm luôn là một trong những yếu tố được quan tâm hàng đầu. Hãy lựa chọn sen vòi với hàm lượng Chì (Pb) thấp, thân thiện với môi trường và lý tưởng để tiếp xúc với môi trường nước. Hàm lượng chì tiêu chuẩn có trong đồng là ≤0.25%.

Tư vấn cách chọn mua vòi hoa sen tốt 1
Hàm lượng chì trong sản phẩm luôn là một trong những yếu tố được quan tâm hàng đầu, bởi vậy nên chọn sen vòi với hàm lượng Chì (Pb) thấp.

Tiếp theo tiêu chí dễ dàng tháo lắp, vệ sinh cũng là một trong những ưu tiên hàng đầu. Sen vòi sau một thời gian sử dụng sẽ sinh ra các cặn bẩn từ nước và môi trường. Chính vì thế, việc vệ sinh và bảo dưỡng vòi để đảm bảo dòng nước sạch là rất quan trọng. Khi lựa chọn mua sản phẩm, khách hàng nên lựa chọn các sản phẩm sen vòi có thể dễ dàng tháo rời đầu vòi để có thể vệ sinh và bảo dưỡng được thuận tiện.

Tư vấn cách chọn mua vòi hoa sen tốt 2
Lớp mạ sen vòi là yếu tố không kém phần quan trọng giúp sản phẩm luôn sáng bóng

Lớp mạ sen vòi là yếu tố không kém phần quan trọng giúp sản phẩm luôn sáng bóng và bền vững với thời gian. Do đó, hãy lựa chọn các sản phẩm có kỹ thuật mạ Niken, Chrome tiên tiến với khả năng chống rỉ sét và chống oxi hóa.

Bên cạnh đó áp lực dòng chảy được coi là yếu tố quyết định cho sự lựa chọn. Người mua nên chọn tay sen phun rửa mạnh với áp lực dòng chảy lớn và hiệu suất nhỏ giọt bằng không đến cuối kỳ giúp tiết kiệm nguồn nước. Đặc biệt, áp lực dòng chảy lớn giúp dòng nước phun mạnh, tạo cảm giác thoải mái khi sử dụng.

Tư vấn cách chọn mua vòi hoa sen tốt 3
Áp lực dòng chảy được coi là yếu tố quyết định cho sự lựa chọn.

Cuối cùng, phải chú ý đến sự bền vững của kết cấu bên trong. Hãy lựa chọn các sản phẩm sen vòi với van điều khiển bằng sứ có độ bền cao và chống bám cặn. Ngoài ra, lưu vực máy trộn hai nguồn nóng - lạnh có thể xử lý hoạt động một cách trơn tru.

Nhiều nơi chưa xây dựng chương trình vật liệu xây không nung

Bộ Xây dựng đánh giá, sau 4 năm thực hiện Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển VLXKN đến năm 2020 (Chương trình 567), lĩnh vực VLXKN đã mang lại những kết quả đáng khích lệ. Cụ thể, hiện nay trên phạm vi cả nước đã có 13 nhà máy sản xuất gạch bê tông khí chưng áp, 17 nhà máy sản xuất bê tông bọt, trên 1000 dây chuyền sản xuất gạch xi măng cốt liệu công suất trên 10 triệu viên QTC/năm và một số chủng loại vật liệu không nung khác (tổng công suất thiết kế đạt gần 5,4 tỷ viên QTC).

Các nhà máy sản xuất ra sản phẩm có chất lượng ổn định cho thấy chúng ta đã làm chủ được công nghệ sản xuất VLXKN. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư cho dây chuyền sản xuất VLXKN loại xi măng cốt liệu không cao, thời gian đầu tư cho một dây chuyền sản xuất cũng không dài, nên trong thời gian vừa qua tốc độ đầu tư sản xuất gạch xi măng cốt liệu tăng nhanh. Đến hết năm 2012, tổng công suất đầu tư VLXKN đã hoàn toàn đảm bảo cung cấp sản phẩm để đạt và vượt mục tiêu của Chương trình.

Đến thời điểm hiện tại Bộ Xây dựng đã có văn bản thẩm định Kế hoạch tăng cường sử dụng VLXKN và Lộ trình giảm dần việc sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung và chấm dứt sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công, lò thủ công cải tiến, lò vòng sử dụng nhiên liệu hoá thạch của hơn 20 địa phương như Kon Tum, Quảng Ngãi, Bến Tre, Bắc Ninh...

Nhiều nơi chưa xây dựng chương trình vật liệu xây không nung Còn nhiều địa phương chưa xây dựng chương trình phát triển VLXKN.

Tuy nhiên, theo Bộ Xây dựng, vẫn còn nhiều địa phương chưa xây dựng Kế hoạch và Lộ trình, thực hiện chưa nghiêm túc các văn bản của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Xây dựng về Chương trình phát triển VLXKN, vẫn còn tồn tại các lò gạch thủ công, thủ công cải tiến gây ô nhiễm môi trường.

Hiện tại các văn bản của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Xây dựng không cấm việc sản xuất gạch đất sét nung bằng công nghệ lò nung Tuynel. Tuy nhiên với điều kiện cụ thể của từng địa phương, các địa phương có thể xây dựng lộ trình giảm dần việc sản xuất gạch đất sét nung bằng công nghệ lò nung Tuynel hoặc không cho phép đầu tư mới các nhà máy sản xuất gạch đất sét nung bằng công nghệ lò nung Tuynel.

Để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả sau 4 năm thực hiện Chương trình 567, Bộ Xây dựng đề nghị các địa phương Chỉ đạo các ban ngành liên quan của tỉnh tăng cường công tác quản lý, khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất VLXKN, định hướng cho các doanh nghiệp sản xuất VLXKN trên địa bàn áp dụng công nghệ mới vào sản xuất VLXKN, tạo ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng, hạn chế sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung; Xây dựng và công bố giá các sản phẩm VLXKN trong công bố giá vật liệu xây dựng hàng tháng của địa phương.

Các địa phương chưa xây dựng Kế hoạch tăng cường sử dụng VLXKN và Lộ trình giảm dần việc sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung và chấm dứt sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công, lò đứng liên tục, lò thủ công cải tiến, lò vòng sử dụng nhiên liệu hoá thạch, cần khẩn trương xây dựng, ban hành và báo cáo Bộ Xây dựng trước 30/9/2014. Tổng hợp, báo cáo tình hình đầu tư, sản xuất VLXKN, gạch đất sét nung trên địa bàn tỉnh gửi về Bộ Xây dựng trước ngày 30/6/2014.